Thế nào là một người có văn hóa? Thế nào là một xã hội văn minh?

0
xembaitap - Thế nào là một người có văn hóa? Thế nào là một xã hội văn minh?

Thế nào là một người có văn hóa? Thế nào là một xã hội văn minh? – Bài 1

Văn hóa, văn minh là những khái niệm mà người ta hay nói đến trong đời sống, trên sách báo, cũng là những mục tiêu mà con người và xã hội phân đâu đạt tới nhưng không phải ai cũng hiểu đầy đủ những khái niệm đó, và có lẽ cũng một phần vì thế mà sự phấn đấu để trở thành người có văn hóa, để có một xã hội văn minh cũng còn chưa toàn diện, chưa được như mong muốn.

Có nhiều định nghĩa về văn hóa, văn minh nhưng định nghĩa chung nhất là: Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử, trên con đường tiến tới văn minh, là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh.

Văn minh là trình độ phát triển đạt đến mức độ cao của xã hội về văn hóa vật chất và tinh thần.

Vậy thế nào là người có văn hóa, thế nào là một xã hội văn minh?

Văn hóa theo nghĩa hẹp chỉ kiến thức khoa học tự nhiên, khoa học xã hội học ở trường nhưng chữ “văn hóa” ta nói đây rộng hơn thế nhiều. Người có văn hóa trước nhất phải có kiến thức ở mức phổ thông nhưng “người có văn hóa” còn phải hội tụ nhiều tiêu chí khác nữa, ngoài kiến thức khoa học học ở nhà trường ra, người có văn hóa còn phải hiểu biết về thực tế, về xã hội, về chính trị, về pháp luật, về các hoạt động tinh thần của con người (như nghệ thuật, lễ hội…) và phải có phong cách ứng xử đúng, đẹp trong mọi trường hợp, mọi hoàn cảnh giao tiếp.

Trước nhất, nói về kiến thức khoa học. Người có văn hóa phải có kiến thức khoa học toàn diện: khoa học xã hội, khoa học tự nhiên… Một người chỉ biết về văn hóa tự nhiên, không biết về khoa học xã hội và ngược lại, chưa thể coi là người có văn hóa. Ví dụ: không biết về lịch sử dân tộc, không biết chút gì về ngoại ngữ, về tin học… Người có văn hóa lại phải biết vận dụng kiến thức khoa học vào thực tế dời sống. Không thể quan niệm một người có văn hóa không viết nổi một cái đơn (văn bản nhật dụng), không biết sử dụng các đồ điện thông thường trong nhà, cũng như không thể hình dung một kĩ sư nông nghiệp không phân biệt được các loại lúa chính trên cánh đồng.

Người có văn hóa phải có hiểu biết và có thể tham gia vào những sinh hoạt tinh thần trong xã hội. Ví dụ phải biết ít nhiều về các ngành nghệ thuật như hội họa, âm nhạc… phải hiểu về phong tục tập quán của dân tộc, có thể hòa nhập với cộng đồng trong các hoạt động tinh thần như nghi lễ, lễ hội…

Người có văn hóa phải sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, không có hành vi vi phạm pháp luật dù nhỏ nhất như vi phạm những quy định ở nơi công cộng… Người có văn hóa phải chấp hành luật lệ giao thông (không đi xe trên vỉa hè, không đi bộ dưới lòng đường, đi xe biết nhường đường cho người đi bộ khi rẻ, không bày đồ trên vỉa hè, trên lòng đường, không làm ồn ở nơi công cộng, không gây tiếng động ban đêm, không sờ vào hiện vật trong phòng triển lãm, trong nhà bảo tàng (hành động cướp hoa ở hội hoa Hà Nội tết Mậu Tý 2008 là hành động vô văn hóa không thể chấp nhận được). Có những việc ta không làm, pháp luật cũng không bắt tội nhưng người có văn hóa vẫn làm vì lợi ích đồng loại. Ví dụ nhặt được của rơi trả cho người mất (có thể nộp cho Công an nếu không biết người mất là ai) hoặc đưa người bị nạn bất chợt gặp ở dọc đường, đi cấp cứu).

>> Xem thêm:  Môi trường sống có còn được sống?

Điều dễ thấy nhất là người có văn hóa phải có phong cách ứng xử đúng đắn, đẹp đẽ trong sinh hoạt hàng ngày, trong các mối quan hệ, các trường hợp giao tiếp. Ví dụ biết nói lời xin lôi khi lỡ làm phiền người khác, biết nói lời cảm ơn khi ai đó giúp mình một việc gì đó dù nhỏ, không nói to trong sinh hoạt thường ngày, nhất là ở nơi công cộng, không nói những lời thô lỗ, tục tằn dù với những người thân, không ăn uống nhồm nhoàm dù ở nhà riêng của mình, biết thưa gửi khi hỏi thăm đường, không nói nhiều về mình khi trò chuyện với người khác, không hỏi chuyện đời tư người mới quen, không chen lấn xô đẩy khi mua hàng, biết tự kiềm chế khi bị xúc phạm, không khúm núm với người trên, không nhả nhớt với người dưới. Bất cứ hoạt động nào cũng có văn hóa của nó, ví dụ văn hóa nói năng, văn hóa ẩm thực, văn hóa xã giao, văn hóa dự hội nghị, văn hóa dự lễ hội… Người có văn hóa phải biết tuân thủ, biết tôn trọng và ứng xử theo văn hóa đó.

Nội dung “người có văn hóa” thật phong phú. Phấn đấu trở thành người có văn hóa không phải dễ. Cơ sở của “hành động có văn hóa” không chỉ là nhận thức, tri thức, mà trước nhất là đạo đức, sự tôn trọng người và tôn trọng mình. Hành động có văn hóa phải xuất phát từ ý thức thường trực và phải thực thi thường xuyên để trở thành kĩ năng, thành thói quen, thành bản lĩnh, tính cách.

Về “xã hội văn minh” như trên đã nói, xã hội văn minh là xã hội có trình độ phát triển cao về văn hóa vật chất và tinh thần. Cụ thể đó là một xã hội có trình độ khoa học kĩ thuật cao, mọi người dân đều có trình độ kiến thức phổ thông trở lên. Đó cũng là xã hội pháp quyền, mọi hoạt động của xã hội đều có cơ sở pháp luật, mọi người dân đều có nhân quyền, đều sống và làm việc theo hiến pháp, theo pháp luật, văn hóa tinh thần phát triển phong phú và mọi người đều được hưởng thụ, đều biết hưởng thụ văn hóa và đều có phong cách ứng xử có văn hóa.

Về trình độ khoa học kĩ thuật, xã hội văn minh là xã hội đại công nghiệp, có trình độ khoa học kĩ thuật tiên tiến, hiện đại, tự động hóa cao, công nghệ tin học xâm nhập vào tất cả các ngành kinh tế, văn hóa và sinh hoạt của con người, kinh tế tri thức trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của xã hội.

về kiến thức phổ thông, toàn dân đều có trình độ trung học phổ thông, số dân có trình độ đại học và trên đại học tăng cao, ranh giới giữa công nhân và kĩ sư được rút ngắn.

Xã hội văn minh là xã hội dân chủ, các cơ quan đầu não, các người đứng đầu cơ quan đầu não đều do dân bầu theo hình thức trực tiếp (phổ thông đầu phiếu) hoặc gián tiếp (thông qua quốc hội cũng do dân bầu ra), nhân quyền với các quyền tự do được đảm bảo bằng pháp luật và các chính sách xã hội (như chính sách tích luỹ và phân phối phúc lợi xã hội).

Xã hội văn minh là xã hội pháp quyền. Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Mọi người đều sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật.

>> Xem thêm:  Phân tích nhân vật Hộ trong truyện ngắn Đời thừa của nhà văn Nam Cao

Sinh hoạt tinh thần trong xã hội văn minh phong phú lành mạnh, mỗi người dân đều có quyền tham gia hưởng thụ và có trình độ để tham gia hưởng thụ các hoạt động tinh thần ấy.

Những tài năng nghệ thuật được tạo điều kiện để phát triển. Mọi người có tự do tín ngưởng và không tín ngưởng, xã hội không chấp nhận mê tín dị đoan vì mê tín dị đoan là trái với văn minh và có hại cho con người.

Trong xã hội văn minh, ứng xử giao tiếp được coi trọng với những tiêu chí như lịch sự, hữu hảo, tôn trọng người khác và tự trọng mọi thứ đều phải đẹp, cái đẹp trở thành đạo đức.

Phong cách và phương pháp làm việc của toàn xã hội: Khoa học, tiết kiệm, năng suất và hiệu quả cao.

Trên đây là những tiêu chí có tính chẩt lí tưởng về xã hội văn minh. Hiện nay, chưa có nước nào trên thế giới tự nhận hoặc được thừa nhận là đạt được đầy đủ các tiêu chí trên. Xây dựng xã hội văn minh vẫn là mục tiêu phân đâu chung của nhân loại. Việt Nam chúng ta mới ra khỏi chiến tranh và đói nghèo, chúng ta đang tích cực đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới để năm 2020 trở thành một nước công nghiệp. Xây,dựng đất nước dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đang là mục tiêu phấn đấu của chúng ta.

Học sinh chúng ta là những người được trang bị kiến thức phổ thông và được giáo dục theo tinh thần “học để biết, học để làm, học để sống chung…” tức là chúng ta đang được đào tạo trở thành những người có văn hóa, những người xây dựng xã hội văn minh. Muốn vậy, học sinh chúng ta không chỉ học giỏi kiến thức ở trường mà còn phải luôn luôn tự trau dồi, rèn luyện về mọi mặt theo tiêu chí người có văn hóa. Nhà trường không phải ốc đảo mà là một tế bào của xã hội, mà xã hội như ta biết là một tập hợp người rất đông đảo được tổ chức theo một hình thức sinh hoạt chung. Nói chung nó rất phức tạp. Bên cạnh cái tốt có cái xấu, bên cạnh cái tiến bộ có cái lạc hậu. Học sinh ta phải được rèn luyện trong môi trường xã hội (học đi đôi với hành, lí luận gắn với thực tế, nhà trường gắn với xã hội), chúng ta phải biết hấp thụ những tinh hoa của xã hội, loại trừ những cái xâu để trở thành người có văn hóa, góp phần xây dựng xã hội văn minh. Người có văn hóa và xã hội văn minh là hai mục tiêu cao đẹp song song và thông nhất trong cuộc đời của mỗi con người chúng ta.

Thế nào là một người có văn hóa? Thế nào là một xã hội văn minh? – Bài 2

Làm người như thế nào là câu hỏi lớn day dứt bao nhiêu thế hệ xưa nay. Câu hỏi của các cô con gái của Các Mác đối với cha mình chính là như thế.

Câu hỏi “Đức tính mà cha quý nhất là gì” cũng tức là hỏi cha thích một con người như thế nào, thích sống như thế nào.

Câu trả lời của Các Mác đã nêu lên một đức tính quan trọng của con người: giản dị. Giản dị là một đức tính về phong cách sống. Người ta thường nói: con người giản dị, tác phong giản dị, ăn mặc giản dị, lời văn giản dị… Đức tính giản dị đối lập với thói xa hoa, thói phô trương, kiểu cách, làm bộ làm tịch, bày vẽ nhiều thủ tục rườm rà, rắc rối. Giản dị là sống tự nhiên, tìm một con đường ngắn nhất để đến với mọi người, mọi việc. Bác Hồ của chúng ta là một tâm gương sáng lớn về đức tính giản dị. Ông Phạm Văn Đồng từng nói: Bình sinh Hồ Chủ tịch là một người rất giản dị, lão thực. Vĩ nhân, thật vĩ nhân bao giờ cũng giản dị, lão thực. Hồi còn sống ở chiến khu. Chủ tịch Hồ Chí Minh sống chung, ăn chung với cán bộ, bộ đội. Đến bữa cơm, Người lây thìa chia thức ăn cho mọi người. Giờ giải lao, Người đánh bóng chuyền với mọi người. Về Hà Nội, Người vẫn thích mặc bộ bà ba, đi dép lốp, ở nhà sàn. về ngôn ngữ, tuy Người rất giỏi tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc và nhiều thứ tiếng khác, nhưng Người chủ trương nói tiếng Việt, không thích dùng từ nước ngoài khi không cần thiết, không ai hiểu. Bác Hồ rất ghét phô trương, xa hoa. Đến thăm nơi nào, Người không muôn báo trước để người ta phải tổ chức đón rước, mất công, mất việc. Trong Di chúc Người không muốn sau khi mình mất, nhân dân phải tổ chức điếu phúng linh đình.

>> Xem thêm:  Quan niệm của anh chị về lối sống giản dị của một con người

Nhưng giản dị không phải là đơn giản, thô sơ. Thơ của Bác Hồ chẳng hạn, là giản dị, nhưng không giản đơn chút nào. Ví như bài Đi đường, dễ hiểu, gợi cảm, không dùng điển cố, nhưng rất sâu sắc. Giản dị là hình thức của cách sống, cách suy nghĩ chân thật, trung thực của con người.

Không nên hiểu giản dị là không ăn mặc đẹp, không đi giầy dép, nói năng không cần thưa gửi, uống nước lã, ăn quả xanh. Có bạn hiểu giản dị là ăn nói tùy tiện, thậm chí nói tục ở trong lớp, trước mặt mọi người. Như thế không phải là giản dị, mà là thiếu văn hóa, thiếu tôn trọng người khác. Một người học sinh giản dị là người sống khiêm nhường, không phô trương, không khoe khoang. Một học sinh giản dị là học sinh biết ăn mặc đẹp, lịch sự, sạch sẽ, nhưng không lố lăng. Đó là người hòa nhã, gần gũi với mọi người trong học tập và vui chơi. Đó là người hồn nhiên, học hết mình, chơi hết mình, không có thái độ giả tạo. Chẳng hạn, không hiểu mà không hỏi bạn, sợ mang tiếng là dốt hoặc biết mà bạn hỏi thì không bảo, giữ kẽ, giữ tủ. Che đậy mình hoặc khoe khoang mình tức là giả tạo, không giản dị.

Tóm lại, câu trả lời của Các Mác đối với các con gái của ông có một ý nghĩa nhân sinh sâu sắc. Đức tính mà Các Mác quý nhất cũng chính là đức tính mà chúng ta yêu quý. Giản dị là một đức tính quý báu. Đồng thời cũng là một phương hướng tu dưỡng, rèn luyện. Đẹp biết bao khi mọi người sống với nhau giản dị, chân thật, ấm áp và đầy lòng tin cậy như M. Go-rơ-ki đã nói: “Cái đẹp là ở cái giản dị”.

Thống kê tìm kiếm

  • người có văn hóa là

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *