Phân tích nhân vật Hộ trong truyện ngắn Đời thừa của nhà văn Nam Cao

0
xembaitap - Phân tích nhân vật Hộ trong truyện ngắn Đời thừa của nhà văn Nam Cao

Phân tích nhân vật Hộ trong truyện ngắn Đời thừa của nhà văn Nam Cao

Nam Cao là nhà văn am hiểu cảnh đời của người lao động nghèo ở thành thị cũng như nông thôn. Tác phẩm của ông đều chứa đựng tình cảm xót xa, thương cảm với những thân phận nghèo khổ bị xa hội phong kiến thực dân coi khinh, rẻ rúng. Đó là cái xã hội đã đẩy con người lương thiện đến bước đường cùng, sống trong cảnh tù.túng, quẫn bách… Người trí thức nghèo cũng không thoát khỏi số phận đó. Truyện ngắn Đời thừa đăng trên Tiểu thuyết Thứ Bảy, ở Hà Nội số 4 ra ngày tháng 12 năm 1943 của nhà văn Nam Cao phần nào nói lên điều đó.

Đời thừa là một trong những truyện ngắn xuất sắc viết về cuộc sống nghèo khổ, tủi nhục của tầng lớp trí thức nghèo trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Nhân vật chính của truyện là Hộ – một nhà văn vừa có tâm huyết với sự nghiệp văn chương vừa nặng lòng thương yêu những con người nghèo khổ gặp lúc khó khăn cùng quẫn. Hộ là người có ý thức sâu sắc về cuộc sống – một cuộc sống có ý nghĩa đối với bản thân và cộng đồng. Anh muốn: “Nâng cao giá trị đời sống của mình” để có ích cho xã hội, cho cộng đồng. Sự bế tắc của người trí thức cũng nhằm phản ánh một thực tế tù túng, ngột ngạt của xã hội đương thời.

Đọc Đời thừa người đọc cảm nhận sâu sắc về tâm huyết của Hộ đối với sự nghiệp văn chương mà anh say mê, yêu quí hơn cả bản thân mình. Anh đã từng ôm ấp “Hoài bão lớn” vì thế Hộ coi thường gian khổ, khó khăn thường nhật trong cuộc sống: “Đói rét không có nghĩa lí gì đối với gã tuổi trẻ say mê lí tưởng. Lòng hắn đẹp. Đầu hán mang một hoài bão lớn. Hắn coi khinh những lo lắng tủn mủn về vật chất”. Niềm say mê sự nghiệp văn chương, say mê những việc làm có ích cho đời của Hộ đẹp biết bao, đáng trân trọng biết bao! Đã say mê thì có “hoài bão lớn”, nên Hộ coi sự sáng tạo nghệ thuật là tất cả, là niềm đam mê, là máu thịt, là hơi thở của mình: “Đối với hắn lúc ấy nghệ thuật là tất cả; ngoài nghệ thuật không còn gì đáng quan tâm nữa”. Và trong thâm tâm Hộ luôn nghĩ đến một tác phẩm có giá trị không những về nghệ thuật mà còn cả về nội dung thể hiện. Nó sẽ tạo được tiếng vang rộng lớn: “hắn băn khoăn nghĩ đến một tác phẩm nó sẽ làm mờ hết các tác phẩm khác cùng ra một thời”.

>> Xem thêm:  Suy nghĩ về hiện tượng “nghiện” karaoke và internet trong nhiều bạn trẻ hiện nay

Thực ra, cái ham muốn của Hộ không phải là cái ham muốn nổi danh mà không có thực. Hộ muốn có tác phẩm: “làm mờ hết các tác phẩm khác cùng ra một thời” là ham muốn tự khẳng định mình với cuộc đời, với xã hội, với bạn đọc. Đó là biểu hiện ý thức trách nhiệm của cá nhân với tập thể, với cộng đồng. Hộ hoàn toàn không muốn mình là cái bóng mờ nhạt, không có ý nghĩa với xã hội, với mọi người. Từ những trăn trở với “hoài bảo lớn” và việc Hộ cưu mang Từ, người đọc cảm nhận được Hộ là người vừa có tâm vừa có tài. Cái tài cái tâm của Hộ được bộc lộ rõ ràng ở “tuyên ngôn” về nghệ thuật và lòng nhân từ, thương cảm, bao dung đối với những người nghèo khổ. Hộ coi “nghệ thuật là tất cả”, là nghệ thuật chân chính phục vụ con người, chứ không phải thứ “nghệ thuật vị nghệ thuật” mà một bộ phận nhà văn đương thời quan niệm về đề xướng. Hộ quan niệm về một tác phẩm có tính nghệ thuật cao là tác phẩm có giá trị về nội dung và nghệ thuật: “Một tác phẩm thật có giá trị, phải vượt lên trên tất cả bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn vừa lại phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình… nó làm cho người gần người hơn”.

Quả thật, Hộ coi trọng sự nghiệp văn chương của mình – đó là lẽ sống, lí tưởng cao đẹp của anh. Anh ấp ủ “hoài bão lớn” và khát khao thực hiện bằng được. Nhưng, sự đời thường đi ngược lại ý định của con người. Thực tế cuộc sống luôn xuất hiện những lo lắng về cơm áo, gạo tiền, thiếu trước hụt sau, với những lo toan vặt vằnh: “Những lo lắng liên miên về vật chất”, “những bận rộn tẹp nhẹp vô nghĩa lí”, buộc Hộ phải xa rời “hoài bão” của mình. Mà Hộ không lo được. Vì Hộ là chủ của một gia đình: “Có cả một gia đình phải chăm lo”.

>> Xem thêm:  Cảm nhận bài thơ tương tư của Nguyễn Bính

Thế nên, Hộ không thể coi thường chuyện cơm áo gạo tiền được. Mà muốn có cơm áo gạo tiền tạm đủ thì ngoài viết văn ra Hộ không vừa ý, không tâm đắc, nghĩa là phải viết nhanh, viết vội: “Hắn phải cho in nhiều cuốn văn viết vội vàng. Hắn phải viết những báo cáo để người đọc rồi quên ngay sau lúc đọc”. Đây là việc làm hoàn toàn Hộ không muốn, Hộ coi đó là sự thấp kém, hèn hạ của người cầm bút có lương tâm. Viết những vân đề mà: “Toàn những vô vị, nhạt nhẽo, gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông, đem một vài ý rất thông thường quấy loãng trong một thứ văn bằng phẳng và quá ư dễ dãi” thì Hộ đau khố nhục nhã lắm! Và Hộ thấy điều đó thật “bất lương”, “đê tiện”.

Viết văn đối với Hộ là điều thiêng liêng. Người viết văn phải lao tâm khổ lực mới tạo nên những tác phẩm có giá trị đích thực. Vì thế, Hộ thường tâm niệm: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chí dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có…”. Nghĩ về văn chương, nghĩ về trách nhiệm của người cầm bút như thế quả thật là chí lí, thật là sâu sắc. Nhưng thực tế phũ phàng buộc Hộ không thực hiện những điều mình nghĩ, những điều mình tâm đắc. Điều đó thường làm cho Hộ dằn vặt, đau khố – đau khổ đến tột cùng: “Con gì buồn hơn chính mình lại phải chán mình? Còn gì đau đớn cho một kẻ vẫn khát khao làm một cái gì mà năng cao giá trị đời sống của mình, mà kết cục chẳng làm được cái gì, chỉ những cơm áo gạo tiền mà đủ mệt?”.

>> Xem thêm:  Thế nào là một người có văn hóa? Thế nào là một xã hội văn minh?

Đây chính là một nghịch cảnh của những người muốn xây dựng cho mình một cuộc sống có ý nghĩa với đời bằng sức lao động sáng tạo, bằng ý chí và nghị lực của người lao động chân chính. Thế nhưng họ vẫn phải chịu một cuộc sống như “một kẻ vô ích, một người thừa”.

Hộ là nhà văn vừa có tài lại vừa có tâm. Cái tài của Hộ không phát huy được. “Hoài bão lớn” của Hộ cũng không thực hiện được, Và cái tâm của Hộ cũng bị tổn thương. Anh đau khổ khi phải sống tàn nhẫn, thô bạo với vợ con. Phá vỡ nếp sống thường nhật của anh là coi trọng đạo lí, coi trọng tình thương, coi trọng tình người. Đã nhiều lần Hộ tự mình tìm ra lối thoát khỏi sự bế tắc, ràng buộc chuyện cơm áo gạo tiền và những thứ vặt vãnh khác: “Ta đành phải phí đi một vài năm để kiếm tiền” nghĩa là Hộ phải viết thư văn nhạt nhẽo mà Hộ không muôn.

Bi kịch của Hộ phản ánh thực trạng sự bế tắc của tầng lớp trí thức nghèo nhưng giàu tâm huyết, có ý thức xây dựng lí tưởng, mục đích sống cao đẹp. Họ là nhân tài của đất nước, nhưng bị xã hội nửa thực dân nửa phong kiến vùi dập, chà đạp, buộc họ phải sống trái ngược với lương tâm, tài năng vốn có của mình. Hình ảnh của Hộ trong truyện ngắn Đời thừa là một minh chứng điển hình. Và những trăn trở, dằn vặt, những “hoài bão lớn” về sự nghiệp văn chương của Hộ, chính là những điều tâm huyết của nhà văn Nam Cao gửi đến bạn đọc đương thời cũng như ngày nay.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *